Tác giả Phùng Triệu và những bức ảnh mang giá trị lịch sử

Tham gia từ ngày đầu thành lập Câu lạc bộ Ảnh báo chí thuộc Hội Nhà báo Việt Nam (CLB). Ban đầu CLB chỉ có hơn 30 hội viên mà Ban Chủ nhiệm lâm thời có 10 đồng chí. Thủa ấy nhiệm kỳ của CLB lúc thì 5 năm, lúc lại thay đổi 3 năm một khóa, Chủ nhiệm CLB là Giám đốc Nhà Văn hóa Hội Nhà báo Việt Nam kiêm nhiệm. Đến Khóa thứ 3 (nhiệm kỳ 2007-2010) thì tôi và anh Phùng Triệu đều được Đại hội CLB bầu vào Ban Chấp hành. Lúc đó tôi được bầu làm Phó Chủ tịch và anh Phùng Triệu được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành CLB.

Lúc ấy CLB rất khó khăn bởi hội viên tham gia phải là phóng viên, nhà báo nên rất ít. Hội phí lại thu ít nên mọi hoạt động gần như chỉ trông chờ vào quan hệ của đồng chí Chủ tịch CLB và Hội Nhà báo Việt Nam bởi Ủy viên Ban Chấp hành CLB có đồng chí Đồng Quang Tiến là Chánh Văn phòng Hội Nhà báo Việt Nam nên mọi quan hệ hợp tác cũng thuận tiện hơn. Đến khóa thứ 4 (nhiệm kỳ 2010-2014), tôi được bầu làm Phó Chủ tịch Thường trực, anh Vũ Huyến làm Phó Chủ tịch, anh Phùng Triệu vẫn được bầu là Ủy viên Ban Chấp hành CLB. Nhiệm kỳ này chúng tôi tập trung hơn vào công tác bồi dưỡng nghiệp vụ ảnh báo chí nên hoạt động của CLB sôi động hơn, thu hút thêm nhiều hội viên nên các thành viên Ban Chấp hành CLB có nhiều cơ hội làm việc với nhau hơn.

Năm 2010, CLB Ảnh báo chí phối hợp với Bộ Giao thông vận tải phát động Cuộc thi và Triển lãm ảnh báo chí mang tên “Những con đường Việt Nam”, Nhà báo, NSNA Phùng Triệu (Người mặc quần trắng, áo cộc tay hoa màu vàng đứng thứ nhất bên trái) dẫn đầu một nhóm hội viên đi tác nghiệp về đề tài này tại Sơn La, Điện Biên.

Một lần – vào khoảng cuối năm 2012, khi Ban Chấp hành CLB trao đổi đề tài về những bức ảnh chiến tranh để đưa vào chương trình phân tích ảnh trong các buổi sinh hoạt nghiệp vụ CLB, anh Phùng Triệu có nói với tôi là anh xem ti vi nói về Truông Bồn và anh đã tìm thấy một số bức ảnh chụp ở Nghệ An thời kỳ Kháng chiến chống Mỹ. Lúc bấy giờ máy ảnh kỹ thuật số khá thịnh hành, nhiều người chụp ảnh máy phim muốn lưu trữ ảnh là phải đi scan fim lưu vào đĩa CD để lưu trữ nên tôi bảo anh ra Lap ảnh Photo Cen ở Thông tấn xã Việt Nam để scan những bức phim cũ đó. Sau đó anh in ra cỡ 6 x9 cm 04 bức, cóp file ảnh vào chiếc đĩa CD gửi tôi và bảo tôi là những bức này trước đây anh giữ lại vì đi chụp riêng nên giao tôi lưu trữ làm tài liệu ảnh của CLB.

Bức ảnh Tiểu đội thép TNXP được tác giả giảng dạy tại chương trình  Bồi dưỡng nghiệp vụ ảnh báo chí nâng cao Khóa 2

Thấy những bức ảnh đó có giá trị nên tôi mới hỏi chuyện anh về những bức ảnh đó. Anh kể nhiều lắm… Thấy vậy tôi đã ghi chép lại và đăng trên một số tờ báo. Tôi trao đổi với anh là CLB giờ triển khai nhiều khóa bồi dưỡng nghiệp vụ ảnh báo chí. Ta lấy những bức ảnh trên ra là giáo cụ trực quan để giảng dạy, tác giả đồng ý ngay.

Nhà báo, NSNA Phùng Triệu đánh giá ảnh thực tập của các học viên K2 nâng cao (năm 2012).
Nhà báo, NSNA Phùng Triệu (đứng giữa) trao Giấy chứng nhận Bồi dường nghiệp vụ ảnh báo chí nâng cao cho học viên Khóa 2 (năm 2012)

Từ đó, trong mỗi khóa bồi dưỡng nghiệp vụ ảnh báo chí từ cơ bản đến nâng cao do CLB tổ chức, anh Phùng Triệu lại đưa những bức ảnh anh chụp ở Truông Bồn, Nghệ An trong thời kỳ Miền Bắc chi viện cho chiến trường Miền Nam ra giảng dạy. Năm 2014, nhân kỷ niệm 15 năm thành lập CLB Ảnh báo chí, Nhà báo, NSNA Phùng Triệu lúc bấy giờ về quê ở Gia Lộc, Hải Dương và phát triển hội viên CLB tại Hải Dương và đề nghị Ban Chấp hành CLB mở Chi nhánh 4 – Hải Dương do anh đại diện cho Ban Chấp hành phụ trách. Đến năm 2017, anh thôi đảm nhiệm chức danh Ủy viên Ban Chấp hành CLB nhưng vẫn tham gia sinh hoạt CLB.

Cuối tháng 2 năm 2023, do sức khỏe giảm sút nên anh đã mãi mãi đi xa. Trước đó, anh vẫn thường xuyên gọi điện cho tôi hỏi thăm về hoạt động của Ban Chủ nhiệm (Lúc này Ban Chấp hành CLB đổi thành Ban Chủ nhiệm) và CLB Ảnh báo chí. Anh vẫn luôn nhắc tôi cố gắng để hội viên CLB chụp được thật nhiều bức ảnh mang tính báo chí và giá trị nghệ thuật cao để ảnh của hội viên được đăng tải thật nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, góp phần chung vào sự nghiệp báo chí cách mạng Việt Nam, đồng hành cùng sự phát triển đất nước…

Gần đây, trong một lần cùng cơ quan đến viếng thăm Khu Di tích Truông Bồn, tôi thấy bức ảnh Tiểu đội thép TNXP của ảnh chụp được Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tặng treo ở Nhà khách Khu Di tích Truông Bồn. Tôi có vào xem và thấy chỉ có một bức nên nhân kỷ niệm 27 năm Ngày thành lập CLB tôi đã bàn với Ban Chủ nhiệm và CLB quyết định tặng lại cho Khu Di tích Truông Bồn 04 bức ảnh mà cố Nhà báo, NSNA Phùng Triệu – Nguyên Ủy viên Ban Chấp hành CLB chụp tại Truông Bồn, Nghệ An năm 1968 mà anh đã gửi CLB lưu giữ lại.

CLB Ảnh báo chí giới thiệu 04 bức ảnh cố Nhà báo, NSNA Phùng Triệu chụp năm 1968 tại Truông Bồn, Nghệ An.

Tiểu đội thép Truông Bồn khẩn trương san lấp hố bom để thông đường,thông xe tại trọng điểm Truông Bồn (Ảnh Phùng Triệu)
Xã Hưng Long, huyện Hưng Nguyên san lấp hố bom để tranh thủ sản xuất lương thực, đảm bảo cho chiến đấu lâu dài và chi viện cho chiến trường Miền Nam (Ảnh Phùng Triệu)
Đoàn viên TNLĐ và dân quân xã Liên Sơn huyện Đô Lương nhân bèo dâu trên hố bom Mỹ để sản xuất lương thực (Ảnh Phùng Triệu)
Công binh Quân khu 4 rà phá bom mìn của Mỹ tại khu vực nhà máy điện Vinh để phục hồi sản xuất, quyết đảm bảo: “Dòng điện không bao giờ tắt” (Ảnh Phùng Triệu)

Nhân dịp kỷ niệm 27 năm Ngày thành lập CLB Ảnh báo chí (25/01/1999 – 25/01/2026) tôi xin gửi tới toàn thể hội viên CLB nội dung câu chuyện về những bức ảnh mà cố Nhà báo, NSNA Phùng Triệu đã chụp tại Nghệ An – Truông Bồn năm 1968. Anh lấy tên bài viết mà tôi ghi chép lại là:

“ Nghệ An, Truông Bồn – Một thời để nhớ”

Anh kể:

“ Tháng 2/1968 sau khi tốt nghiệp khóa 7 – Lớp đào tạo phóng viên do Việt Nam Thông tấn xã (nay là Thông tấn xã Việt Nam) phối hợp cùng Ban Tuyên giáo Trung ương và Tổng Cục Thông tin đào tạo, được Bộ Biên tập Việt Nam Thông tấn xã cử vào thường trú tại tỉnh Nghệ An với nhiệm vụ là một phóng viên chiến sự.

Hồi đó với chiếc xe đạp Thống Nhất được cơ quan phân phối cùng với chiếc ba lô trong đó vật dụng quan trọng nhất là chiếc máy ảnh mới nhãn hiệu Ech-Giéc-Ta chụp phim 24×36 mới toanh và một chiếc máy Rolleiflex cũ chụp phim cỡ 6×6 cùng với 20 cuộn phim đen trắng, một bọc đựng thuốc tráng phim và quần áo, tư trang lặt vặt. Người nhận quân và dẫn đường là Trưởng Phân xã Nguyễn Hùng Đào và một điện báo viên là Nguyễn Mậu Hân. Sau hơn 4 ngày đạp xe từ Hà Nội, vượt qua nhiều trọng điểm máy bay Mỹ bắn phá ác liệt như cầu Hàm Rồng, cầu Lau, cầu Hổ, cầu Khoa Trường, Hoàng Mai, Đò Lèn, cầu Giát, cầu Bùng,…vượt qua nhiều đường xế (đường tránh) nhiều lúc phải dắt xe hoặc cõng xe đạp lên vai mà đi, mà lội, vừa đi vừa tránh bom vừa hỏi đường… Có thể nói anh em chúng tôi phải đội bom đạn mà đi. Thời kỳ đó dọc đường không hề có hàng quán nên tụi tôi thường phải nhờ nhà dân bên đường để nghỉ tạm và nấu cơm ăn, rồi nắm cơm cho cả ngày hôm sau. Thức ăn thì toàn cá khô và muối vừng mang theo. Lần đầu trong đời tôi phải đi một chặng đường dài gian khổ như vậy. Chân tay đau nhức, mỏi nhừ, nằm xuống đất ngủ lúc đứng dậy phải có người đỡ. Lại còn những cơn sốt nóng, sốt rét cấp tính hành hạ. Có những lúc tưởng không thể sống nổi hoặc vượt qua sự gian nan, vất vả và nguy hiểm dọc đường… Cuối cùng 3 anh em tôi cũng đến được Phân xã ở nơi sơ tán.

Phân xã Việt Nam Thông tấn xã được Tỉnh ủy Nghệ An xếp cùng ở và sinh hoạt với Ban Tuyên giáo tỉnh, lúc đầu đóng tại xã Thượng Sơn sau lại chuyển đến xã Hiến Sơn thuộc huyện Đô Lương, một huyện thuộc vùng bán sơn địa. Vào thời điểm này Mỹ tăng cường đánh phá Miền Bắc bằng không quân, đặc biệt là trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Xã Hiến Sơn (nơi chúng tôi sơ tán) chỉ cách trọng điểm Truông Bồn xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương chừng 3km đường chim bay. Phải nói rằng không có một ngày nào, giờ nào ngớt tiếng máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời Nghệ An đặc biệt là nút giao thông Truông Bồn. Từ “Truông” theo tiếng địa phương của người Nghệ Tĩnh có nghĩa là đèo dốc (giống như dốc Pha Đin hay đèo Lũng Lô vậy). Truông Bồn nơi được gọi là trọng điểm, là “túi bom”, là “cửa tử” cách thị trấn Đô Lương 15km, nơi giáp ranh giữa hai huyện Đô Lương và Nam Đàn của tỉnh Nghệ An. Đây là một đoạn đường độc đạo dài chừng 5km trên tuyến đường 15A, tuyến đường nối từ Bắc vào Nam, là con đường huyết mạch quan trọng bậc nhất của hậu phương Miền Bắc tiếp tế mọi mặt cho chiến trường Miền Nam. Truông Bồn có đoạn lọt giữa hai sườn đồi, có đoạn một bên là đồi một bên là ruộng nước giống như một cửa ải rất dễ bị vùi lấp, tắc nghẽn không thể vượt qua khi bom Mỹ ném trúng. Tại trọng điểm Truông Bồn hầu như không có ngày nào (suốt cả ngày lẫn đêm) ngớt tiếng bom Mỹ dội. Tại đây cùng với gần 1300 chiến sĩ TNXP và một số lực lượng đảm bảo giao thông khác, tiểu đội 2 mà sau này được đặt tên là “Tiểu đội thép” thuộc C317 của Đội TNXP 300 tỉnh Nghệ An đã đêm ngày bám trụ để đảm bảo giao thông với khẩu hiệu “Sống bám cầu, bám đường, chết kiên cường dũng cảm”.

“Tiểu đội thép” được biên chế 15 chiến sĩ, trong đó có 13 là nữ và 2 nam do Trần Thị Thông làm Tiểu đội trưởng. Vào thời điểm nhập ngũ (15/7/1965) các chị, các anh đang ở “Cái tuổi 20 khi hướng đời đã thấy”…, có 2 chị trẻ nhất chỉ mới qua tuổi 17. Họ cùng nhau vượt lên bom đạn và những vất vả, thiếu thốn, ngày phải phơi mặt dưới nắng chói chang và cái nóng hầm hập của gió Lào để san lấp hố bom, san đường mở lối, đêm phải điều chỉnh, cảnh giới thậm chí phải trở thành “Cọc tiêu sống” hướng dẫn cho những đoàn xe vượt trọng điểm chở hàng ra tiền tuyến. Thậm chí nhiều khi các chiến sĩ còn phải xả thân cứu người, cứu xe, cứu hàng mỗi khi có người, có xe bị trúng bom đạn của Mỹ… Họ thật sự là những “Con người gang thép” quyết bám trụ để đảm bảo giao thông trên trọng điểm Truông Bồn, “Thà hy sinh chứ quyết không để đường bị tắc, xe bị ùn”…

Cho đến ngày 31/10/1968 cả Tiểu đội đều lập công xuất sắc, đã được Bác Hồ tặng lẵng hoa và Trung ương Đoàn tặng cờ Nguyễn Văn Trỗi. Nhiều chiến sĩ đã được tặng danh hiệu “Chiến sỹ thi đua” và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam… Cũng vào thời điểm này – thời điểm cả Tiểu đội đã hoàn thành nhiệm vụ, chuẩn bị xuất ngũ. Một số chị em đã có giấy gọi vào học tại các trường Đại học hoặc Trung học chuyên nghiệp, có người đã tìm thấy một nửa của mình ngay tại đơn vị, chỉ còn chờ ngày về quê tổ chức đám cưới như trường hợp chị Nguyễn Thị Tâm quê ở xã Hợp Thành huyện Yên Thành và anh Cao Ngọc Hoà ở xã Diễn Lộc huyện Diễn Châu…

Tôi đã có 2 lần sang viết tin, chụp ảnh Tiểu đội 2, được mệnh danh là “Tiểu đội thép”. Lần đầu vào tháng 5/1968 do Trưởng Phân xã Nguyễn Hùng Đào dẫn đi, lần thứ 2 vào đầu tháng 8/1968 sang để lấy tài liệu tuyên truyền nhân dịp kỷ niệm lần thứ 23 Cách mạng Tháng 8 và Quốc Khánh 2/9. Vì có quen biết từ trước nên đợt sau tôi đi một mình. Hôm đó khi tôi tới Truông Bồn thì đã thấy các chiến sĩ tiểu đội 2 đang hối hả san lấp hố bom về phía cuối Truông, nơi có sườn đồi thấp và một bên là ruộng nước hoang hóa. Chưa khai thác tài liệu và sẵn hiện trường đang tấp nập tôi tiến hành tác nghiệp ngay. Vừa chụp ảnh tôi vừa nghe ngóng động tĩnh. Chụp đến kiểu phim thứ 10 bằng chiếc máy RolleiFlex , thấy tài liệu đã ổn, tôi nói với tiểu đội trưởng Trần Thị Thông là tập hợp cả tiểu đội lại tôi chụp ảnh kỷ niệm cho. Chị em trong tiểu đội ai cũng thích, cũng muốn chụp nhưng tiểu đội trưởng Thông lại lưỡng lự. Thông cảm ơn tôi và đưa ra 2 lý do không nên chụp ảnh kỷ niệm lúc này: một là phải nhanh chóng lấp hố bom để thông xe, hai là muốn đảm bảo an toàn cho tôi. Cô nói: “ Nhà báo xong nhiệm vụ rồi thì nên tránh xa trọng điểm càng nhanh càng tốt kẻo bom Mỹ nó chẳng chừa ai đâu. Anh có làm sao thì chị em không gánh nổi trách nhiệm và lại có tội lớn với cha mẹ ở ngoài Bắc”. Nói xong cô liếc xéo tôi một cái và cười hóm hỉnh … Biết không thể thuyết phục được người Tiểu đội trưởng thép, tôi tiến hành ghi chép nhanh một số tư liệu rồi đành chào các bạn ra về. Tôi còn hứa là sẽ in ảnh tiểu đội đang lấp hố bom lần sau sẽ đưa sang …
Về Phân xã buổi tối tôi xuống hầm chữ A tráng phim ngay và hôm sau trước khi gửi phim về Tổng xã tôi không quên cắt bớt một kiểu phim giữ lại để rồi còn in ảnh tặng cho các chiến sĩ tiểu đội 2 như lời đã hứa. Thời kỳ đó phóng viên tự ý cắt bớt phim tài liệu là vi phạm lớn có thể bị kỷ luật hoặc mất “Lao động tiên tiến” như chơi nhưng tôi vẫn liều.

Chiến tranh, bom đạn và công việc của người phóng viên chiến sự cứ kéo tôi vào những chuyến đi liên miên, lúc lên rừng chụp xác máy bay Mỹ rơi, khi xuống biển tường thuật trận đánh chìm tàu chiến Mỹ của đơn vị pháo mặt đất… Thế là tôi vẫn chưa thực hiện được lời hứa và than ơi! tôi đã mắc nợ các chị, các anh “Tiểu đội thép anh hùng” cho đến tận bây giờ. Bởi lẽ cái ngày định mệnh 31/10 năm đó (1968) đã cướp đi vĩnh viễn cuộc đời cũng như sự nghiệp của 13 chiến sỹ TNXP anh hùng ở trọng điểm Truông Bồn, sự mất mát đó thật quá lớn lao.

Hôm đó vào lúc 4 giờ sáng 14 chiến sỹ của “Tiểu đội thép” nhận được lệnh của cấp trên, sẵn sàng lao ra hiện trường để san lấp những hố bom Mỹ vừa đánh phá trong đêm ở phía bắc Truông, chỉ còn 1 chiến sỹ ở lại trông lán. Họ bước vào cuộc chiến đấu (không ai nghĩ sẽ là trận cuối cùng) với một quyết tâm cao và vui vẻ như thường, quyết thông xe trước khi trời sáng. Sau 2 tiếng đồng hồ lao động cật lực, các hố bom đã cơ bản được lấp xong. Họ chỉ còn rải thêm đá hộc vào những chỗ đất ướt có thể làm cho xe bị trượt bánh nữa là về lán nghỉ ngơi. Nhưng cũng đúng vào khoảnh khắc ấy, vào lúc hơn 6 giờ đột nhiên một tốp máy bay Mỹ lao tới dội bom tới tấp vào vị trí đơn vị vừa thi công. Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông (vai đeo súng) chỉ kịp hô “cả tiểu đội vào hầm trú ẩn” thì một loạt bom của giặc đã rơi trúng đội hình tiểu đội. Khi khói bom vừa tan, lực lượng cứu hộ của đơn vị bạn đến hiện trường thì chỉ nhìn thấy những hố bom chằng chịt và sự im lặng đến rợn người. Lực lượng cứu hộ chia nhau đi tìm và đào bới khắp nơi nhưng cũng không tìm thấy một ai. May thay có người phát hiện có một nòng súng trồi lên bên cạnh một hố bom, mọi người nhanh tay đào bới và kéo lên được một nữ chiến sỹ đã gần tắt thở vì ngạt. Họ sơ cứu rồi đưa ngay đến Bệnh viện dã chiến ở gần đấy, người chiến sỹ đã được cứu sống chính là Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông – người anh hùng của Tiểu đội thép anh hùng.

Nhân kỷ niệm 40 năm sự tích, huyền thoại Truông Bồn (2008) Đảng và Nhà nước ta đã phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân” cho tập thể Tiểu đội 2 – Tiểu đội thép Truông Bồn thuộc đại đội 317, đội TNXP 300 tỉnh Nghệ An. Tiểu đội trưởng Trần Thị Thông (người duy nhất còn sống sót trong trận bom đó) và 13 liệt sỹ trong đó có 11 là nữ đều được truy tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân”. Dịp kỷ niệm lần thứ 44 Huyền thoại Truông Bồn 27/10/2012 tôi ngồi xem chương trình truyền hình trực tiếp trên sóng vô tuyến của Đài Truyền hình Việt Nam, tôi lại nghĩ đến món nợ chưa trả các liệt sỹ và anh hùng TNXP Truông Bồn. Tôi chợt nhớ là tôi còn giữ một tấm phim chụp về tiểu đội thép TNXP anh hùng ở Truông Bồn huyền thoại năm xưa và không biết là mình đã cất ở đâu?. Tôi quyết tâm phải tìm tòi, lục lọi, lật giở tất cả những gì thuộc về kỷ niệm trong chiến tranh, tất cả những gì tôi lưu giữ trong những năm tháng công tác tại Nghệ An. Và như có sự run rủi vô hình nào đó, tôi đã tìm lại được tấm phim này nằm kẹp trong tập thơ của cố thi sĩ Trần Hữu Thung (tác giả bài thơ nổi tiếng Thăm Lúa) mà ông đã tặng tôi nhân một lần tôi đến thăm ông và được ông mời uống rượu năm 1969. Tuy tấm phim (cỡ 6×6) đã bị mốc lấm tấm và xây xước một vài chỗ nhưng tôi mừng đến rơi nước mắt, bởi lẽ đây là một kỷ vật duy nhất của tôi về Tiểu đội thép anh hùng. Tôi cũng tự an ủi mình rằng rồi đây khi bức ảnh này được công bố, được đăng tải trên một số phương tiện thông tin thì cũng coi như tôi đã trả được món nợ đời với những người Anh hùng trong huyền thoại Truông Bồn. Còn hơn thế, có lẽ đây là một trong số kiểu phim ít ỏi và quý giá nhất trong cuộc đời làm báo và 44 năm cầm máy ảnh của tôi”.

Ghi chép của Nhật Thăng

Để lại một bình luận

Để lại một bình luận